Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang tháng 8 năm 2016

I. KINH TẾ

1. Sản xuất nông nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp:

- Trồng trọt:

Trong tháng cây lương thực có hạt gieo trồng 1.635 ha, tám tháng gieo trồng 188.121 ha, đạt 88,3% kế hoạch và giảm 3,9% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch trong tháng 58.440 tấn, tám tháng thu hoạch 798.250 tấn, đạt 64,2% kế hoạch và giảm 8,1% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo trồng 184.636 ha (chiếm 98,1% diện tích cây lương thực có hạt), đạt 88,5% kế hoạch, giảm 3,9% so cùng kỳ, đã thu hoạch xong 120.886 ha, năng suất bình quân 65,2 tạ/ha, tăng 0,3% so cùng kỳ với sản lượng 787.640 tấn, đạt 64,2% kế hoạch, giảm 8,1% so cùng kỳ. Trong đó:

 - Vụ lúa Hè Thu: chính thức xuống giống được 70.673 ha, đạt 100,2% kế hoạch, giảm 6,2% so cùng kỳ, tương ứng giảm 4.644 ha nguyên nhân do ảnh hưởng của hạn, mặn nên diện tích các xã ven đê biển, cuối nguồn không xuống giống vụ này để chuẩn bị làm đất xuống giống sớm cho vụ sau. Dự ước đến cuối tháng thu hoạch 11.241 ha, năng suất 50,6 tạ/ha với sản lượng 56.855 tấn. Về cơ cấu giống lúa: lúa đặc sản, chất lượng cao, như  OM 4900, OM 6162, nếp bè... với diện tích 34.564 ha, chiếm tỉ lệ 49%, giảm 8,5% so cùng kỳ; lúa thường như IR 50404, IR64... với diện tích 31.955 ha, chiếm tỉ lệ 45%; giống lúa thuần khác diện tích 4.154 ha, chiếm 6%.

- Vụ Thu Đông: xuống giống 1.275 ha, ước tính vụ này xuống giống khoảng 35.000 ha tập trung ở các huyện phía đông.

Trong tháng trồng 358 ha bắp, 33 ha cây chất bột có củ, 5.389 ha rau đậu các loại. Ước đến cuối tháng 8, trên địa bàn tỉnh gieo trồng 3.469 ha bắp, giảm 5% so cùng kỳ, thu hoạch 2.963 ha, năng suất bình quân 35,7 tạ/ha với sản lượng 10.577 tấn, giảm 4% so cùng kỳ do diện tích thu hoạch giảm. Cây chất bột có củ trồng 1.124 ha, đạt 121,7% kế hoạch, giảm 2,8% so cùng kỳ; trong đó: diện tích khoai mỡ 588 ha. Cây rau đậu các loại trồng 46.524 ha, đạt 91,1% kế hoạch, tăng 3,7% so cùng kỳ; thu hoạch 38.882 ha, năng suất bình quân 178,2 tạ/ha với sản lượng 692.775 tấn, tăng 0,5% so cùng kỳ; chủ yếu là rau các loại gieo trồng 46.416 ha, thu hoạch 38.797 ha, năng suất bình quân 178,5 tạ/ha với sản lượng 692.521 tấn.

- Chăn nuôi:

Đàn bò của tỉnh thời điểm ước đạt 86.800 con, tăng 4,4% so cùng kỳ tương ứng tăng 3.680 con. Đàn lợn đạt 595 ngàn con, tăng 1,2% so cùng kỳ, tương ứng tăng 6.845 con, nguyên nhân do thời gian qua dịch bệnh được kiểm soát, giá lợn hơi trên thị trường không cao nhưng giữ ở mức có lợi cho người chăn nuôi. Đàn gia cầm đạt 8,5 triệu con, tăng 11,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 0,9 triệu con; trong đó, đàn gà 5,9 triệu con.

b. Thủy hải sản:

Diện tích nuôi thủy sản các loại trong tháng 543 ha, 8 tháng nuôi 14.301 ha, đạt 91,1% kế hoạch, giảm 2,9% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi 6.031 ha, giảm 1,4% so cùng kỳ do tình hình thời tiết chưa thuận lợi cho việc thả nuôi ở các huyện phía Đông. Thủy sản nước mặn, lợ nuôi 8.270 ha, giảm 3,9% so cùng kỳ. Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng 31.468 tấn, 8 tháng thu hoạch 174.882 tấn, đạt 72,2% kế hoạch, tăng 6,1% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch từ nuôi 107.034 tấn, tăng 8,9% so cùng kỳ do diện tích nuôi nước mặn, lợ đang vào mùa thu hoạch tôm, nghêu nên sản lượng tăng. Trong tháng, xảy ra 2 trường hợp tai nạn tàu cá làm 1 người mất tích, ước thiệt hại tài sản khoảng 1,3 tỷ đồng; 8 tháng  đã xảy ra 5 trường hợp tai nạn tàu cá, ước thiệt hại tài sản 4,8 tỷ đồng.

Tình hình dịch bệnh trên tôm: đến nay lũy kế có 79,31 ha tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh và quảng canh ở 2 huyện Gò Công Đông và Tân Phú Đông bị thiệt hại. Đã sử dụng 13.900 kg Chlorine/104 hộ/34,96 ha để xử lý môi trường nuôi.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 15,3% so tháng cùng kỳ năm trước. Tám tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,5% so cùng kỳ; bao gồm: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 62,5%, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,7%, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 15,2%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,7%.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7/2016 so với tháng trước giảm 7% và so cùng kỳ tăng 10,4%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng thời điểm năm trước là: sản phẩm gạo xay xát gấp 4,5 lần, thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh dạng viên gấp 5,5 lần... Bên cạnh đó có một số ngành có chỉ số tồn kho giảm là: thức ăn cho gia súc giảm 46%, sản xuất thức ăn cho thủy sản giảm 57,6%, sản phẩm bia đóng chai giảm 42,4%, sản phẩm bia đóng lon giảm 31,7%...

3. Đầu tư - xây dựng

Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện tháng 8 là 219,7 tỷ đồng, 8 tháng thực hiện 1.227,9 tỷ đồng, đạt 59,5% kế hoạch, tăng 14,2% so cùng kỳ.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 930,9 tỷ đồng, tăng  22,9% so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 219,8 tỷ đồng, giảm 10,9% so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 77,2 tỷ đồng, tăng 9% so cùng kỳ.

4. Thương mại - giá cả - du lịch

a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội:

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trong tháng thực hiện được 4.600 tỷ đồng, tăng 13% so cùng kỳ; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa 3.762,7 tỷ đồng, tăng 14,3%. Tám tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội thực hiện được 35.107,6 tỷ đồng, đạt 63,3% kế hoạch, tăng 8,3% so cùng kỳ; gồm: kinh tế nhà nước thực hiện được 3.064,7 tỷ đồng, tăng 4,1%, kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 31.844,6 tỷ đồng, tăng 8,5%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 198,3 tỷ đồng, tăng 62,7%. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp thực hiện 28.537,4 tỷ đồng, tăng 8,1%; lưu trú 54,2 tỷ đồng, tăng 13,1%, ăn uống 3.002,9 tỷ đồng, tăng 9,5%, du lịch lữ hành 43,8 tỷ đồng, tăng 5,2%, dịch vụ 3.469,3 tỷ đồng, tăng 9,1% so cùng kỳ.

b. Xuất - Nhập khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện 188,9 triệu USD, tăng 5% so tháng trước. Tám tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện 1.278,1 triệu USD, đạt 60,9% kế hoạch, tăng 12,4% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước thực hiện 6,6 triệu USD, giảm 65,7%, kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 362,7 triệu USD, giảm 3%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 908,8 triệu USD, tăng 22,1%. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:

- Hàng thủy sản: xuất 10.254 tấn, tăng 2,7% so tháng trước, kim ngạch đạt 22,5 triệu USD. Tám tháng xuất 80.859 tấn, tăng 1%, kim ngạch đạt 170,2 triệu USD, giảm 6,2% so cùng kỳ.

- Gạo: xuất 6.324 tấn, tăng 36,1% so tháng trước về giá trị đạt 3,2 triệu USD; tám tháng xuất 89.350 tấn, giảm 28,4% về trị giá đạt 41,8 triệu USD, giảm 22,2% so cùng kỳ do những thị trường tập trung như Philippines, Malaysia, Indonesia… không có nhu cầu nhập khẩu nhiều, thị trường Trung Quốc cũng trầm lắng, nhu cầu giảm.

- Hàng dệt may: xuất 5.117 ngàn sản phẩm, tăng 5,4% so tháng trước, giá trị đạt 52,6 triệu USD; tám tháng xuất 40.507 ngàn sản phẩm, giảm 30,7% về trị giá đạt 267,9 triệu USD, tăng 13,8% so cùng kỳ.  

- Hàng rau quả: xuất 478 tấn, trị giá đạt 972 triệu USD; tám tháng xuất 4.870 tấn, giảm 1,7% về trị giá đạt 9,4 triệu USD, tăng 31,9% so cùng kỳ.

Ngoài các mặt hàng chủ yếu, trị giá xuất khẩu mặt hàng giày dép, sản phẩm bằng nhựa, túi xách, ống đồng đang phát triển mạnh. Tám tháng trị giá xuất khẩu giày dép các loại đạt 268,5 triệu USD, tăng 33,4%; túi xách sản phẩm bằng nhựa đạt 291,8 triệu USD, tăng 4,2%; kim loại thường và các sản phẩm đạt 148,6 triệu USD, tăng 17,4% so cùng kỳ.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 103,8 triệu USD, tăng 11,6% so tháng trước. Tám tháng, kim ngạch nhập khẩu 723,8 triệu USD, đạt 60,3% kế hoạch, tăng 3,8% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước đạt 139 triệu USD, giảm 37,9%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 584,8 triệu USD, tăng 15,9% so cùng kỳ. Trị giá nhập khẩu tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo đạt 718,2 triệu USD, tăng 3,7% so cùng kỳ; trong đó nhập khẩu cho sản xuất chế biến thực phẩm 91,9 triệu USD, giảm 37%, may mặc 207,2 triệu USD, tăng 12,5%, sản xuất da và các sản phẩm liên quan 203,7 triệu, giảm 15,5%. Nhập khẩu hàng hóa đạt 5,6 triệu USD, tăng 5,4%.

c. Giá cả:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 giảm 0,49% so tháng trước (thành thị giảm 0,45%, nông thôn giảm 0,5%), so cùng kỳ tăng 2,33%, so tháng 12 năm trước tăng 1,55%, bình quân 8 tháng năm 2016 so với bình quân 8 tháng năm 2015 tăng 2,2%. So với tháng trước có 7/11 nhóm hàng hóa có chỉ số tăng, tăng cao nhất là nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,44%, kế đến là nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,13%, nhóm văn hóa, giải trí, du lịch và nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,06%... Nhóm hàng bưu chính viễn thông ổn định. Có 3/11 nhóm hàng giảm đó là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,76%, nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,49%; giao thông giảm 2,21%. CPI tháng 8 giảm so tháng trước do một số nguyên nhân:

- Giá xăng dầu trong nước điều chỉnh giảm vào các ngày 20/7 và 4/8/2016, tính chung mỗi lít xăng giảm 1.270 đồng, dầu diezen 0,05S giảm 630 đồng và dầu hỏa giảm 370 đồng/lít góp phần làm giảm chỉ số giá tiêu dùng chung tháng 8/2016 ở mức khoảng 0,19%; Giá gas giảm 4.500 đồng/bình 12 kg vào ngày 1/8/2016, tác động chỉ số giá gas giảm 3,79%. Thời tiết có mưa nhiều, nên nhu cầu người tiêu dùng tiêu thụ điện, nước ít hơn tác động đến chỉ số giá điện sinh hoạt giảm 0,41%, nước sinh hoạt giảm 0,2%.

- Đang vào vụ thu hoạch vụ Hè Thu nên các mặt hàng lương thực, rau xanh, trái cây... nguồn cung dồi dào nên giá giảm như: bắp cải giảm 10,65%, cà chua giảm 13,34%, rau muống giảm 1,94%...; Quả có múi giảm 1,53%: táo giảm 0,85%, xoài giảm 1,44% và thanh long ruột trắng giảm 25,77%...; Giá thịt heo giảm 0,79%, giá thịt gà giảm 1%, vịt còn sống giảm 0,99%, giá tôm tươi hoặc ướp lạnh giảm 1,23%...  do trùng tháng 7 âm lịch có mùa lễ Vu Lan, nhu cầu tiêu dùng giảm dẫn đến giá giảm nhẹ.

Bên cạnh đó, một số mặt hàng giá tăng nhẹ so với tháng trước do vào năm học mới: áo sơ mi nam ngắn tay tăng 0,76%, áo sơ mi nam dài tay tăng 1,36%, áo sơ mi nữ dài tay tăng 0,98%, giầy da nam tăng 0,97%, giầy da nữ tăng 1,41%, bút máy tăng 1,66%...

Chỉ số giá vàng trong tháng tăng 1,07% so tháng trước, giá vàng bình quân trong tháng 3.576 ngàn đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la giảm 0,05% so tháng trước, giá bình quân 22.330 đồng/USD.

d. Du lịch:

Trong tháng, khách du lịch đến 132,1 ngàn lượt khách, tăng 10,1% so cùng kỳ; trong đó khách du lịch quốc tế 43,1 ngàn lượt khách, tăng 10,3%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 402,2 tỷ đồng, tăng 14,3%. Tính chung 8 tháng lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 1.064,2 ngàn lượt khách, tăng 5,6% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 357,4 ngàn lượt khách, tăng 6,9%; tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 3.100,8 tỷ đồng, tăng 9,5%, trong đó doanh thu du lịch lữ hành và hỗ trợ hoạt động du lịch chiếm 1,4%.

e. Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 168,9 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước. Tính chung 8 tháng thực hiện 1.277,9 tỷ đồng, tăng 5% so cùng kỳ, tập trung chủ yếu ở thành phần kinh tế ngoài nhà nước. Vận tải đường bộ thực hiện 735,5 tỷ đồng, giảm 0,6%, vận tải đường sông thực hiện 496,1 tỷ đồng, tăng 12,3%, vận tải đường biển thực hiện 46,3 tỷ đồng, tăng 29%.

Vận chuyển hành khách trong tháng thực hiện 2.344 ngàn lượt khách và luân chuyển 88.180 ngàn lượt khách.km. Tính chung 8 tháng vận chuyển 19.677 ngàn lượt khách, giảm 12,8% và luân chuyển 738.720 ngàn lượt khách.km, giảm 7,6% so cùng kỳ. Vận chuyển đường bộ thực hiện 14.108 ngàn lượt khách, giảm 17,2% và luân chuyển 728.858 ngàn lượt khách.km, giảm 7,2% so cùng kỳ. Vận chuyển đường sông thực hiện 5.569 ngàn lượt khách, tăng 0,7% và luân chuyển 9.862 ngàn lượt khách.km, giảm 27,3% do phương tiện qua lại ngang sông có cự ly ngắn nên khối lượng luân chuyển giảm.

Vận chuyển hàng hóa trong tháng thực hiện 1.224 ngàn tấn và luân chuyển 123.829 ngàn tấn.km. Tám tháng vận chuyển hàng hóa 9.419 ngàn tấn, tăng 1,5% và luân chuyển 924.749 ngàn tấn.km, tăng 7,9% so cùng kỳ do một số doanh nghiệp có phương tiện trọng tải lớn chạy tuyến đường dài nhiều hơn năm trước, vì vậy khối lượng vận chuyển ít nhưng khối lượng luân chuyển tăng.Vận tải đường bộ thực hiện 2.403 ngàn tấn, giảm 13,1% và luân chuyển 200.253 ngàn tấn.km, giảm 13,1% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 7.016 ngàn tấn, tăng 7,7% và luân chuyển 724.496 ngàn tấn.km, tăng 15,7%.

5. Bưu chính viễn thông:

Doanh thu dịch vụ bưu chính viễn thông trong tháng đạt 150,5 tỷ đồng, tăng 0,6% so tháng trước. Tám tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.215,8 tỷ đồng, tăng 1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 46,7 tỷ đồng, tăng 12,3%, viễn thông 1.169 tỷ đồng, tăng 0,6%.

Thuê bao điện thoại trong tháng giảm 1.200 thuê bao, trong đó: thuê bao cố định giảm 900 thuê bao. Tổng số thuê bao có trên mạng đến cuối tháng 8 là 152.955 thuê bao, mật độ bình quân đạt 8,8 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao Internet trong tháng phát triển mới 2.000 thuê bao, thuê bao Internet có trên mạng cuối tháng 8 là 96.282 thuê bao, mật độ Internet bình quân đạt 5,6 thuê bao/100 dân.

II. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động việc làm

Trong tháng giới thiệu việc làm cho 332 lượt lao động, có 20 lượt lao động đăng ký đi làm có thời hạn ở nước ngoài, có 10 lao động xuất cảnh chính thức, có 1.091 người đăng ký thất nghiệp và giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 1.322 người với tổng số tiền chi trả 12.153 triệu đồng.

Từ đầu năm đến nay đã giới thiệu cho 2.735 lao động, trong đó có 2.022  lao động có việc làm ổn định; có 106 lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài, trong đó có 100 lao động sang làm việc tại Nhật Bản và 06 lao động làm việc tại Đài Loan; có 7.637 người đăng ký bảo hiểm thất nghiệp và đã giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 7.157 người với tổng số tiền chi trả 63.061 triệu đồng.

2. Chính sách xã hội

Trong tháng vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa được 746 triệu đồng, bàn giao 9 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 360 triệu đồng, sửa chữa 17 ngôi nhà tình nghĩa với kinh phí 340 triệu đồng. Tám tháng vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa được 7.830 triệu đồng đạt 78,3% so với kế hoạch năm, bàn giao 64 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 2.570 triệu đồng đạt 49,2% kế hoạch năm, sữa chữa 44 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 880 triệu đồng đạt 125,7% kế hoạch năm.

Tổ chức 15 đoàn lãnh đạo tỉnh đi thăm tặng quà gia đình chính sách tiêu biểu cho 80 người, với số tiền 80 triệu đồng. Đưa Bà mẹ Việt Nam anh hùng và người có công đi viếng lăng Bác Hồ tham quan thủ đô Hà Nội, đợt 3/2016, cho 30 người, thời gian đi từ 01 đến 06/8/2016; tổ chức đưa người có công tiêu biểu đi dự Hội nghị biểu dương toàn quốc tại thành phố Cần Thơ cho 03 đại biểu từ 22-23/7/2016.

Quỹ Bảo trợ trẻ em vận động được 217,9 triệu đồng, tám tháng vận động được 3,2 tỷ đồng, trong đó tiền mặt 860,7 triệu đồng.

3. Chăm sóc sức khỏe

So với cộng dồn cùng kỳ có 05 bệnh tăng và 12 bệnh giảm, các bệnh khác tương đương hoặc không xảy ra. Những bệnh tăng: bệnh tiêu chảy tăng 21,3%, ho gà tăng 100%; viêm gan virus tăng 153,3%, bệnh rubella tăng 20 cas...; những bệnh giảm như: bệnh sởi giảm 83,3%, thương hàn giảm 28,6%; viêm não virus giảm 12,5%, tay chân miệng giảm 11,6%, thủy đậu giảm 6,1%...

Từ đầu năm đến nay đã khám bệnh cho 3.451.007 lượt người, giảm 1,9% so cùng kỳ, trong đó: điều trị nội trú là 153.150 lượt người, tăng 8,5%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân của các cơ sở điều trị trong tháng đạt 107%. Công tác vệ sinh an toàn cũng được ngành y tế quan tâm, trong tháng ngành phối hợp kiểm tra 856 cơ sở sản xuất, có 95,1% cơ sở đạt tiêu chuẩn.

Một số bệnh truyền nhiễm: Bệnh sốt xuất huyết đã xảy ra 1.473 cas, tăng 113,2% so cùng kỳ, không có tử vong; bệnh HIV có 166 cas nhiễm mới. Tính đến thời điểm báo cáo, tổng số cas nhiễm HIV là 4.372 người, tổng số cas AIDS là 1.648 người, tử vong 904 người…

4. Giáo dục - Đào tạo

Các trường học chuẩn bị tốt các điều kiện cho ngày tựu trường ngày 08/8 (riêng giáo dục mầm non ngày 15/8) và tổ chức khai giảng năm học 2016-2017 vào ngày 05/9.

Kết quả xét công nhận tốt nghiệp THCS, có 21.240/ 21.327 học sinh, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp là 99,6%; trong đó xếp loại giỏi 6.777 học sinh (tỷ lệ 31,9%), khá 7.354 học sinh (tỷ lệ 34,6%), trung bình 7.109 học sinh (tỷ lệ 33,5%).

Kết quả tốt nghiệp Trung học phổ thông năm học 2015-2016: sau chấm phúc khảo, kết quả xét công nhận tốt nghiệp là 10.113 học sinh/10.889 học sinh dự thi, tỷ lệ tốt nghiệp 92,9%, So với năm học trước, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT giảm 1,9%. Có 3 trường có tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp 100% là: THPT Nguyễn Đình Chiểu, THPT Phan Việt Thống, THPT Phước Thạnh.

Kết quả thí sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng năm học 2015-2016 của trường đại học Tiền Giang trúng tuyển nguyện vọng 1 như sau: hệ đại học có 781 thí sinh trúng tuyển/1.180 chỉ tiêu, đạt 66,2%; cao đẳng có 848 thí sinh trúng tuyển/860 chỉ tiêu, đạt 98,6%.

5. Văn hóa - thể thao

Trong tháng tổ chức tuyên truyền các hoạt động trọng tâm như tổ chức kỷ niệm kỷ niệm 69 năm Ngày Thương binh liệt sĩ 27/7; 152 năm ngày anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết (20/8/1864 - 20/8/2016) và lễ đón nhận bằng công nhận lễ hội quốc gia, hưởng ứng năm du lịch quốc gia Kiên Giang - 2016; tổ chức họp với các ngành thẩm định đặt tên đường, công trình công cộng trên địa bàn thị xã Gò Công…

Phong trào thể dục - thể thao trên địa bàn tỉnh luôn được duy trì và phát triển: đội Cử tạ tham dự giải vô địch cử tạ trẻ quốc gia năm 2016 từ 05 – 12/7/2016 tại tỉnh Lào Cai đạt: 01 HCV, 09HCB, 01HCĐ; đội Kick Boxing tham dự giải vô địch trẻ, vô địch toàn quốc năm 2016 từ 20 – 30/7/2016 tại Quảng Ngãi đạt: 01 HCV, 01 HCB, 03  HCĐ; đội Taekwondo tham dự giải vô địch Taekwondo các lứa tuổi trẻ toàn quốc năm 2016 từ  4 – 13/7/2016 tại Tp. Cần Thơ đạt: 01HCV, 01 HCĐ; đội Điền kinh tham dự giải Điền kinh Quốc tế Tp. Hồ Chí Minh mở rộng lần thứ 23 năm 2016 từ 29 – 30/7/2016 tại Sân vận động Thống Nhất Tp. Hồ Chí Minh đạt: 01 HCV…

6. Tình hình trật tự an toàn giao thông: Theo báo cáo của Ngành công an từ 15/6 đến 15/7 như sau:

Giao thông đường bộ: Tai nạn xảy ra 36 vụ làm chết 20 người, bị thương 29 người; so tháng trước tai nạn giảm 06 vụ, số người chết giảm 05 người, số người bị thương tăng 02 người; so cùng kỳ tai nạn giảm 01 vụ, số người chết tăng 06 người, số người bị thương tương đương so cùng kỳ. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay xảy ra 264 vụ, làm chết 153 người, bị thương 187 người; so cùng kỳ tai nạn tăng 56 vụ, số người chết tăng 43 người, số người bị thương tăng 19 người. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 6.566 vụ tăng 381 vụ so tháng trước và giảm 42 vụ so cùng kỳ, phạt tiền 1.768 vụ với số tiền phạt 3.177 triệu đồng. Tổng số vụ vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ từ đầu năm đến nay xảy ra 42.724 vụ giảm 2.699 vụ so cùng kỳ, phạt tiền 12.183 vụ với số tiền 17.979 triệu đồng.

Giao thông đường thủy: Trong tháng không xảy ra tai nạn, giảm 01 vụ so tháng trước, giảm 02 vụ so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay xảy ra 04 vụ tai nạn giảm 02 vụ so cùng kỳ, làm chết 01 người tương đương so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 2.165 vụ tăng 392 vụ so tháng trước và tăng 490 vụ so cùng kỳ, phạt tiền 1.719 vụ với số tiền phạt 175 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay tổng số vụ vi phạm an toàn giao thông đường thủy là 11.669 vụ tăng 783 vụ so cùng kỳ, phạt tiền 9.383 vụ với số tiền phạt 967 triệu đồng.

7. Tình hình cháy nổ

Trong tháng không xảy ra, từ đầu năm đến nay xảy ra 23 vụ cháy với tổng giá trị thiệt hại ước tính hơn 3.324 triệu đồng. Vi phạm môi trường 01 trường hợp với số tiền phạt 1 triệu đồng, từ đầu năm đến nay phát hiện 18 vụ với tổng số tiền phạt hơn 894 triệu đồng do thực hiện không đầy đủ một trong các nội dung cam kết bảo vệ môi trường, thực hiện không đúng một trong các nội dung trong đề án bảo vệ môi trường đã được xác nhận, khai thác cát làm vật liệu xây dựng thông thường không có giấy phép...

SL ước tháng 8 năm 2016

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Tiền Giang