Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang 9 tháng năm 2016

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế:

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 9 tháng đầu năm 2016 ước đạt 36.802 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), tăng 7,8% so với 9 tháng đầu năm 2015, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 16,5% và khu vực dịch vụ tăng 6,8% (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm). Trong 7,8% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,2%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 4,4%, khu vực dịch vụ đóng góp 1,7% và thuế là 0,5%; mức đóng góp của các khu vực cùng kỳ năm 2015 lần lượt là 1,5%, 4,1%, 1,8% và 0,5%. GRDP nếu tính theo giá hiện hành đạt 47.641 tỷ đồng.

Cơ cấu kinh tế: chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và giảm tỷ trọng nông nghiệp. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 38% (cùng kỳ 40,8%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 27,6% (cùng kỳ 25,3%); khu vực dịch vụ chiếm 29,6% (cùng 29,4%); thuế sản phẩm chiếm 4,8% (cùng kỳ 4,5%).

2. Tài chính - ngân hàng:

a. Tài chính:

Tổng thu ngân sách 9 tháng ước đạt 8.799,8 tỷ đồng, đạt 108,9% so với dự toán; trong đó thu từ kinh tế địa phương thực hiện được 5.085,6 tỷ đồng, đạt 86,9% so dự toán và tăng 21,2% so 9 tháng 2015. Một số khoản thu đạt cao so với dự toán năm như: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 97,3%, tăng 41,5% so cùng kỳ; thu tiền sử dụng đất đạt 197,3% và tăng 70,1% so cùng kỳ… Các khoản thu đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu chi tiêu của tỉnh, góp phần đưa nền kinh tế của tỉnh vượt qua khó khăn, an sinh xã hội được đảm bảo, an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Tổng chi ngân sách nhà nước 9 tháng ước đạt 6.532,3 tỷ đồng, đạt 86,9% dự toán và tăng 11,8% so cùng kỳ, các khoản chi đã đáp ứng được hoạt động thường xuyên của các ngành và các địa phương. Trong đó: chi đầu tư phát triển được 1.782,3 tỷ đồng, tăng 26,9% và đạt 81,1% dự toán; chi thường xuyên 3.944 tỷ đồng, đạt 76,5% so dự toán và tăng 5% so cùng kỳ…

b. Ngân hàng:

Hoạt động các ngân hàng trên địa bàn chấp hành tốt trần lãi suất huy động theo quy định, đối với mức lãi suất huy động trên 12 tháng, một số ngân hàng hiện đang tăng mức lãi suất để thu hút nguồn tiền gửi có thời gian dài nhằm đáp ứng cho việc cấp tín dụng trung, dài hạn. Từ đầu năm đến nay, nguồn vốn huy động của các ngân hàng liên tục tăng trưởng và tăng với tốc độ cao, đến nay đã tăng trưởng 20% so với cuối năm 2015.

Tổng thu tiền mặt 9 tháng ước thực hiện được 153.583 tỷ đồng, giảm 3,3% so cùng kỳ; tổng chi tiền mặt thực hiện được 154.633 tỷ đồng, giảm 3,6% so với cùng kỳ. Nguồn vốn huy động đến ngày 10/9 đạt 45.685 tỷ đồng, tăng 7.602 tỷ đồng so đầu năm; dự kiến đến cuối tháng 9 tổng vốn huy động trên địa bàn đạt 46.080 tỷ đồng, tăng 7.997 tỷ đồng so với đầu năm; trong đó huy động từ tiền gửi tiết kiệm chiếm 81,7% trên tổng vốn huy động. Dư nợ cho vay đến ngày 10/9 đạt 32.134 tỷ đồng, tăng 3.355 tỷ đồng so đầu năm; dự kiến đến cuối tháng 9 tổng dư nợ cho vay đạt 32.521 tỷ đồng, tăng 3.741 tỷ đồng so với đầu năm; trong đó dư nợ trung và dài hạn chiếm 41,5%.

3. Đầu tư và xây dựng:

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 9 tháng ước thực hiện 18.203,3 tỷ đồng (trong đó vốn đầu tư xây dựng cơ bản 13.677,7 tỷ đồng, chiếm 75,1%), đạt 68,4% kế hoạch, tăng 9,9% so cùng kỳ; trong đó: khu vực vốn nhà nước 2.255,3 tỷ đồng, tăng 8,9%, chiếm 12,4% trong tổng vốn đầu tư, khu vực vốn ngoài nhà nước 12.012,5 tỷ đồng, tăng 10,2% chiếm 66%, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 3.935,5 tỷ đồng, tăng 9,7%.

Vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện 1.427,5 tỷ đồng, tăng 11,2% so cùng kỳ; trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.083,2 tỷ đồng, chiếm 75,9% tổng số, vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 250,2 tỷ đồng, chiếm 17,5%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã 94,1 tỷ đồng, chiếm 6,6%.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản:

Nông nghiệp:

Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt đến cuối tháng 9 năm 2016 đã kết thúc kế hoạch năm 2016, ước thực hiện được 220.332 ha, đạt 103,4% kế hoạch, giảm 0,2% so cùng kỳ do chuyển đổi cơ cấu cây trồng là chủ yếu; trong đó cây lúa 216.341 ha, đạt 103,7% kế hoạch, giảm 0,1% so cùng kỳ. Sản lượng cây lương thực có hạt đã thu hoạch được 1.117.474 tấn, đạt 89,9% kế hoạch; chủ yếu là sản lượng lúa đạt 1.105.262 tấn, đạt 90,1% kế hoạch, giảm 5,1% so cùng kỳ.

Cùng với việc gieo sạ cây lúa, 9 tháng trên địa bàn tỉnh gieo trồng được 3.971 ha bắp, đạt 89,9% kế hoạch, giảm 5,9% so cùng kỳ; thu hoạch 3.400 ha, năng suất bình quân 35,8 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so cùng kỳ, sản lượng 12.172 tấn. Cây chất bột có củ trồng được 1.201 ha, đạt 130,1% kế hoạch và giảm 2% so cùng kỳ, trong đó diện tích khoai mỡ là 588 ha. Cây rau đậu các loại trồng được 52.164 ha, đạt 102,1% kế hoạch và tăng 4,1%, đã thu hoạch 43.188 ha, năng suất bình quân 178,7 tạ/ha tương đương cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 771.708 tấn; trong đó: rau các loại 52.013 ha, tăng 4,2%, đã thu hoạch 43.097 ha, năng suất bình quân 179 tạ/ha với sản lượng 771.444 tấn. Cây công nghiệp hàng năm trồng được 607 ha, giảm 8,7% so cùng kỳ, trong đó diện tích lạc 388 ha, tăng 32,1%, mía 162 ha, giảm 32,8 %.

Cây lâu năm và cây ăn quả: có 89.702 ha, đạt 102,1% kế hoạch (87.815 ha), tăng 2% so cùng kỳ; trong đó cây ăn quả 72.538 ha, tăng 1.949 ha so cùng kỳ, chủ yếu tăng ở thanh long 461 ha, dứa 1.020 ha, ổi 278 ha và sapoche 236 ha. Sản lượng 9 tháng ước tính thu hoạch 1,3 triệu tấn, đạt 90,4% kế hoạch (1,45 triệu tấn), tăng 3,4% so cùng kỳ chủ yếu ở một số cây như thanh long, dứa, mãng cầu, ổi, vú sữa... nguyên nhân do việc mở rộng diện tích gieo trồng trong những năm trước nay đã tới mùa cho quả cộng với việc xử lý cho quả trái vụ là 2 yếu tố chính sản lượng cây ăn quả tăng.

* Tình hình thiệt hại do hạn và mặn đến ngày 10/9/2016:

Tổng diện tích cây trồng bị thiệt hại do hạn, mặn là 5.854,1 ha, trong đó:

Cây lúa: tổng diện tích lúa bị thiệt hại là 5.008 ha, tỷ lệ thiệt hại 30-70% là 1.294,7 ha; thiệt hại trên 70% là 3.428,4 ha, tập trung tại huyện Gò Công Tây, Gò Công Đông, thị xã Gò Công và Tân Phú Đông, chi tiết:

* Vụ Đông xuân: có 3.784,7 ha lúa bị thiệt hại, tỷ lệ thiệt hại trên 70%: 2.624,3 ha, thiệt hại từ 30-70%: 1.160,4 ha.

* Vụ Hè thu: có 830,8 ha lúa bị thiệt hại, tỷ lệ thiệt hại trên 70%: 760,8 ha, thiệt hại từ 30-70%: 70 ha.

* Vụ Thu Đông (sơ bộ): có 392,6 ha, trong đó có 301,5 ha thiệt hại trên 70% và 91,1 ha thiệt hại từ 30-70%.

Cây rau, màu: có 718,1 ha cây rau, màu các loại bị thiệt hại do hạn mặn gây ra, tỷ lệ thiệt hại trên 70%: 479,7 ha, thiệt hại từ 30-70%: 188,4 ha, thiệt hại dưới 30%: 50 ha, trong đó:

+ Huyện Châu Thành: 583,9 ha (465 ha thiệt hại trên 70% và 118,9 ha thiệt hại từ 30-70%), các loại rau om, diếp cá, ngò gai, rau râm, bầu bí, dưa.

+ Huyện Gò Công Đông: 84,2 ha (14,8 ha thiệt hại trên 70% và 69,5 ha thiệt hại từ 30-70%), cây rau, màu các loại.

+ Huyện Tân Phú Đông: 50 ha, thiệt hại dưới 30%, cây sả.

Cây ăn trái: do ảnh hưởng của hạn và xâm nhập mặn, thiếu nước sản xuất, đến nay đã có 128 ha diện tích cây ăn trái bị ảnh hưởng đến sinh trưởng, cây suy kiệt, tỷ lệ thiệt hại dưới 30%, tập trung tại huyện Tân Phú Đông; trong đó: cây mãng cầu xiêm: 108 ha, cây nhãn: 20 ha.

Chăn nuôi:

Tổng đàn bò 116.261 con, tăng 39,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 32,9 ngàn con. Tổng đàn heo 681 ngàn con, tăng 14% so cùng kỳ, tương ứng tăng 86 ngàn con, do thời gian qua dịch bệnh được kiểm soát. Tổng đàn gia cầm 10,6 triệu con, tăng 29% so cùng kỳ, tương ứng tăng 2,4 triệu con; trong đó, đàn gà 8,2 triệu con.

Lâm nghiệp:

Ước đến hết tháng 9 trồng mới 10,4 ha rừng phòng hộ ven biển tại xã Phú Tân, huyện Tân Phú Đông. Trồng cây phân tán được 2.320 ngàn cây các loại giảm 2,1% so cùng kỳ. Sản lượng khai thác gỗ đạt 38.584 m3, giảm 15,8% so cùng kỳ và khai thác được 152.460 ste củi các loại, giảm 6,4% so cùng kỳ.

Thủy, hải sản:

Ước tính 9 tháng thả nuôi được 14.826 ha thủy sản các loại, giảm 4,1% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi được 6.154 ha, đạt 95,4% kế hoạch, giảm 1% so kế hoạch; nguyên nhân diện tích đạt thấp là do tình hình thời tiết bất thường, nắng nóng kéo dài kết hợp với mực nước trên các sông ngòi, kênh rạch thấp nên các hộ nuôi chưa tiến hành thả nuôi, mặt khác tình hình xâm nhập mặn sâu vào đất liền nên đã ảnh hưởng đến việc nuôi nước ngọt nhất là các huyện phía Đông. Thủy sản nước mặn, lợ được 8.672 ha, đạt 93,8% kế hoạch, giảm 6,2% so cùng kỳ; trong đó diện tích tôm sú 4.423 ha, tăng 5,5% so cùng kỳ.

Về tình hình dịch bệnh: trên tôm từ đầu vụ đến nay đã có 84 ha tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh và quảng canh bị thiệt hại. Ngành nông nghiệp đã xác minh 129 hộ/42,9 ha (nguyên nhân chủ yếu là do bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy). Trên lĩnh vực nuôi nghêu đã thực hiện 9 đợt quan trắc môi trường nước vùng nuôi nghêu. Nhìn chung, các chỉ tiêu đều nằm trong giới hạn cho phép.

Sản lượng thu hoạch 194.621 tấn, đạt 80,3% kế hoạch, tăng 3,3% so cùng kỳ; trong đó: từ nuôi 117.515 tấn, đạt 80,8% kế hoạch, tăng 3,4% so cùng kỳ, tình hình khô hạn và xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến diện tích nuôi nhỏ lẻ trong hộ dân nhưng sản lượng không đáng kể, ở lĩnh vực nuôi nghêu, nuôi lồng bè và nuôi cá thâm canh với qui mô lớn vẫn ổn định nên sản lượng thu hoạch tăng; sản lượng khai thác 77.106 tấn, đạt 79,7% kế hoạch, tăng 3,2% so cùng kỳ.

5. Sản xuất công nghiệp:

Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng tính theo giá so sánh 2010 được 59.049,3 tỷ đồng, đạt 77,2% kế hoạch, tăng 19,1% so cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 giảm 1,2% so tháng trước, tăng 15,5% so cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 14,6% so với cùng kỳ; bao gồm: công nghiệp khai khoáng giảm 67% do các doanh nghiệp hoạt động khai thác cát tạm ngưng hoạt động do thực hiện chủ trương của Ủy ban Nhân dân tỉnh tăng cường quản lý trong lĩnh vực khai thác cát sông; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,8%, trong đó sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,7%, tập trung tăng chủ yếu ở sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 6,4% so với cùng kỳ do chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh ổn định, sản xuất đồ uống tăng 14% do sản lượng bia của công ty trách nhiệm hữu hạn VBL Tiền Giang được sản xuất và tiêu thụ mạnh và công ty tăng cường khuyến mại, mở rộng công suất nhà máy bia, lắp đặt các trang thiết bị, máy móc hiện đại, cùng với quy trình công nghệ tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng thị trường tiêu thụ ngày càng cao của khách hàng trong nước; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 15,2%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,8%.

6. Thương mại, giá cả và dịch vụ:

a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội:

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội 9 tháng thực hiện 39.484 tỷ đồng, đạt 71,1% kế hoạch, tăng 8,4% so cùng kỳ. Trong đó: kinh tế nhà nước 3.352,4 tỷ đồng, tăng 2,6%; kinh tế ngoài nhà nước 35.902,8 tỷ đồng, tăng 8,8%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 228,8 tỷ đồng, tăng 59,4%. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 32.146,5 tỷ đồng, tăng 8,3%; lưu trú 60,9 tỷ đồng, tăng 14%; ăn uống 3.049,3 tỷ đồng, tăng 10,7%; du lịch lữ hành đạt 48,5 tỷ đồng, tăng 4,8%; dịch vụ 3.818,8 tỷ đồng, tăng 7,5% so cùng kỳ.

Nhằm thiết thực hưởng ứng Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Trung tâm xúc tiến Đầu tư - Thương mại - Du lịch đã chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức: Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao từ 29/12/2015 đến 03/01/2016, có quy mô 250 gian hàng với 100 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia; hội chợ diễn ra 6 ngày thu hút hơn 180.000 lượt người đến tham quan mua sắm, doanh thu khoảng 7,5 tỷ đồng. Hội chợ Thương mại - Nông nghiệp Tiền Giang năm 2016 diễn ra từ ngày 26/5 - 02/6/2016 tại đường Hùng Vương, thành phố Mỹ Tho; hội chợ có quy mô 200 gian hàng với 85 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia; qua 8 ngày diễn ra, hội chợ thu hút hơn 35.000 lượt người đến tham quan mua sắm, doanh thu khoảng 3 tỷ đồng. 2 Phiên chợ hàng Việt tại huyện Châu Thành và huyện Gò Công Đông đã thu hút 80 lượt doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng Việt trong và ngoài tỉnh tham gia; có gần 20.000 lượt khách tham quan, mua sắm, doanh thu gần 2 tỉ đồng.

Công tác xây dựng, quản lý chợ trên địa bàn tỉnh tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư trong năm 2015 và đã đưa vào hoạt động năm 2016, gồm 3 chợ và 1 siêu thị: chợ Phú Kiết huyện Chợ Gạo, chợ Khu tái định cư Tân Hương huyện Châu Thành, chợ Tam Hiệp huyện Châu Thành, Siêu thị Co.opMart Gò Công.

b. Xuất - Nhập khẩu:

Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 9 tháng được 1.500,6 triệu USD, đạt 71,5% kế hoạch, tăng 17% so cùng kỳ, gồm: kinh tế nhà nước thực hiện 8,1 triệu USD, giảm 61,2%; kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 422,5 triệu USD, tăng 1,1%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 1.070 triệu USD, tăng 27,1% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:

+ Hàng thủy sản: xuất khẩu được 92.394 tấn, tăng 2,8%, về giá trị đạt 194,8 triệu USD, giảm 4,4% so cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu nhập khẩu cá tra vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi ở 3 thị trường lớn là Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc; riêng thị trường Mỹ thuế chống bán phá giá cao và các hàng rào kỹ thuật đang là rào cản khiến các doanh nghiệp khó xuất khẩu. Giá thu mua chưa có nhiều biến động, có những lúc giá cá giảm xuống chỉ còn 17.500 đồng/kg so giá thành sản xuất làm nông dân chịu lỗ 1.000 đồng/kg. Giá xuất bình quân hàng thủy sản năm 2015 từ 2,17 USD đã giảm xuống còn 2,12 USD năm 2016.

+ Gạo: xuất khẩu được 101.909 tấn, giảm 27,4%, về trị giá đạt 47,3 triệu USD, giảm 21,7% so cùng kỳ. Ngày 1-9, Phillippines đã mở thầu 250.000 tấn gạo đầu tiên, Việt Nam đã trúng thầu 150.000 tấn và sẽ được giao trong tháng 9, tháng 10 dự kiến giá lúa gạo trong nước sẽ tăng theo. Tuy nhiên, đợt trúng thầu này không làm ảnh hưởng đến giá thu mua lúa gạo trong nước, thậm chí giá lúa ở một số nơi còn giảm nhẹ. Theo số liệu công ty lương thực Tiền Giang giá thu mua giá lúa gạo ngày 15/9 cụ thể như sau: gạo nguyên liệu vụ hè thu: gạo lức hạt dài giá 7.000 - 7.100 đồng/kg, giảm từ 200 đến 400 đồng/kg; gạo lức IR 50404 giá 6.450 - 6.550 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg; gạo thành phẩm xuất khẩu vụ hè thu lọai 5% tấm giá 7.300 - 7.400 đồng/kg, giảm 300 đồng/kg; gạo 10% tấm giá 7.200 - 7.300 đồng/kg, giảm 300 đồng/kg; gạo 25% tấm giá 7.000 - 7.100 đồng/kg, giảm 300 đồng/kg so tháng trước.

+ Hàng rau quả: xuất khẩu được 5.161 tấn, giảm 12,4%, về trị giá đạt 10,2 triệu USD, tăng 15,7% so cùng kỳ;

+ Hàng dệt may: xuất khẩu được 50.955 ngàn sản phẩm, giảm 24,9%, giá trị đạt 328 triệu USD, tăng 23% so cùng kỳ. Trị giá xuất khẩu hàng may mặc chiếm tỷ trọng 23% trị giá xuất khẩu của tỉnh, trong đó tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Hàn Quốc, Trung Quốc khi những ưu đãi mà Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương cũng như Hiệp định thương mại tự do mang lại lợi thế tập trung vào các doanh nghiệp này, hiện nay các doanh nghiệp này đang mở rộng quy mô sản xuất do đó các doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh về thị trường, vốn, công nghệ và áp lực cạnh tranh với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa được 933,8 triệu USD, đạt 77,8% kế hoạch, tăng 14,7% so cùng kỳ. Trong đó: kinh tế ngoài nhà nước đạt 177,9 triệu USD, giảm 29,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 755,9 triệu USD, tăng 34,7%. Hàng hóa nhập khẩu tập trung chủ yếu vào các mặt hàng sau: nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 401,8 triệu USD, tăng 11,9%; kim loại thường khác 154,8 triệu USD, tăng 45%; vải các loại 145,5%, tăng 29,9%; thức ăn gia súc và nguyên liệu 131,4 triệu USD, giảm 30,3% so cùng kỳ…

c. Chỉ số giá:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 tăng 0,98% so tháng trước (thành thị tăng 1,25%, nông thôn tăng 0,91%); so với tháng 9 năm 2015 tăng 2,64%; so với tháng 12 năm trước tăng 2,54% và bình quân chín tháng đầu năm 2016 so với bình quân 9 tháng năm 2015 tăng 2,25%. So với tháng trước có 7/11 nhóm hàng có chỉ số tăng, cao nhất là nhóm giáo dục tăng 21,31%, kế đến là nhóm giao thông tăng 0,63%..., tăng thấp nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch ổn định. Có 3/11 nhóm hàng giảm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,06% và bưu chính viễn thông giảm 0,06% so với tháng trước.

Chỉ số giá vàng 24 kara tháng này tăng 0,31% so tháng trước, mức giá bình quân 3.587 ngàn đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,01% so tháng trước, mức giá bình quân 22.332 đồng/USD.

d. Du lịch:

Số khách tham quan du lịch đạt 1.189,9 ngàn lượt, đạt 78,3% kế hoạch, tăng 5,6% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 393,6 ngàn lượt, đạt 79,5% kế hoạch, tăng 5,9% so cùng kỳ. Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 3.518,6 tỷ đồng, tăng 10,7%, trong đó chủ yếu là dịch vụ ăn uống 3.409,2 tỷ đồng, chiếm 96,9%.

Trong 9 tháng, có nhiều ngày nghỉ Lễ kéo dài như tết Nguyên đán, Lễ Giỗ tổ mùng 10/3, Lễ độc lập 30/4 - Quốc tế lao động 1/5, Quốc khánh 2/9,... tạo điều kiện cho người dân và du khách đến Tiền Giang tham quan, du lịch. Trong năm 2016 Tiền Giang có  thêm một điểm du lịch hấp dẫn mới là khu du lịch Đồng Tháp Mười - thuộc huyện Tân Phước, đã được UBND Tỉnh quy hoạch phát triển du lịch với các hạng mục như làng nghề dệt chiếu Long Định, nông trường khóm, vườn thanh long, khu nghỉ dưỡng Bảo Đăng, đặc biệt Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Giác đã được khánh thành giai đoạn I (cuối năm 2015) là trung tâm tu học, giúp phong phú thêm đời sống văn hóa tâm linh của người dân, phật tử Tiền Giang nói riêng và khu vực Nam bộ nói chung.

Hoạt động xúc tiến du lịch: Trung tâm xúc tiến Đầu tư - Thương mại - Du lịch Tỉnh đã hỗ trợ nhà hàng một thoáng Miền Tây và cơ sở Kinh Thành tham gia gian hàng tại lễ hội bánh dân gian Nam Bộ lần V năm 2016 diễn ra từ ngày 15 - 19/4 tại Cần Thơ; tổ chức tham gia Ngày hội du lịch thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 26 - 28/3 tại công viên 23 - 9 thành phố Hồ Chí Minh, qua đó đã phát tặng 60 quyển sổ tay Thông tin du lịch (Việt - Anh - Hàn - Nhật - Trung), 50 bản đồ du lịch, 30 đĩa DVD du lịch và hơn 4.000 ấn phẩm, tờ rơi, brochure chương trình du lịch nhằm quảng bá hình ảnh du lịch Tiền Giang. Trung tâm đã tổ chức lớp bồi dưỡng “nghiệp vụ buồng” từ ngày 15 - 16/3/2016 đã giúp học viên có đầy đủ kiến thức về quy trình, thao tác, kỹ thuật làm buồng cũng như kinh nghiệm thực tiễn về phương pháp giao tiếp tạo thiện cảm, ứng xử tốt và có các giải pháp tốt đẹp đối với những tình huống khó khăn trong quá trình phục vụ khách hàng.

e. Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 9 tháng thực hiện 1.451,5 tỷ đồng chủ yếu là thành phần kinh tế ngoài nhà nước, tăng 6% so cùng kỳ; trong đó doanh thu hành khách đạt 487,9 tỷ đồng, tăng 1,9%; doanh thu hàng hóa 893 tỷ đồng, tăng 7% và doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 70,6 tỷ đồng, tăng 25,4%. Phân theo ngành: vận tải đường bộ 832,6 tỷ đồng, tăng 0,3%; vận tải đường sông 557,6 tỷ đồng, tăng 12,7%; vận tải đường biển 61,3 tỷ đồng, tăng 38,7% so cùng kỳ.

Vận chuyển hành khách đạt 22.376 ngàn lượt khách, giảm 11,5% và luân chuyển được 826.346 ngàn lượt khách.km, giảm 7,4% so cùng kỳ; trong đó vận chuyển của cơ sở kinh tế cá thể đạt 16.255 ngàn lượt khách, giảm 10,6% và luân chuyển được 641.847 ngàn lượt khách.km, giảm 3,3%. Vận tải đường bộ thực hiện 15.962 ngàn lượt khách, giảm 16,3% và luân chuyển được 815.055 ngàn lượt khách.km, giảm 7,1% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 6.414 ngàn lượt khách, tăng 3,4% và luân chuyển được 11.291 ngàn lượt khách.km, giảm 25,6%.

Vận chuyển hàng hóa đạt 10.573 ngàn tấn, tăng 1,9% và luân chuyển được 1.034.989 ngàn tấn.km, tăng 7,7% so cùng kỳ; trong đó cơ sở kinh tế cá thể đạt 4.164 ngàn tấn và luân chuyển được 321.807 ngàn tấn.km, giảm 10,9%. Vận tải đường bộ thực hiện 2.712 ngàn tấn, giảm 12,5% và luân chuyển được 255.179 ngàn tấn.km, giảm 13% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 7.861 ngàn tấn, tăng 8,1% và luân chuyển được 809.810 ngàn tấn.km, tăng 15,4% so cùng kỳ.

* Phương tiện giao thông: tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 983.058 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 958.184 chiếc, 24.677 xe ô tô, 107 xe ba bánh và 90 xe khác.

f. Bưu chính viễn thông:

Doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.387,1 tỷ đồng, tăng 2,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 50 tỷ đồng, tăng 4,3%, viễn thông đạt 1.337,1 tỷ đồng, tăng 2,3%. Bán kính bưu chính phục vụ bình quân đạt 2,2 km/điểm, khu vực nông thôn đạt 2,4 km/điểm phục vụ; số dân phục vụ bình quân đạt 10.797 người/điểm phục vụ, khu vực nông thôn đạt 11.154 người/điểm phục vụ.

Số thuê bao điện thoại trên mạng đến cuối tháng 9 là 151.209 thuê bao, mật độ điện thoại bình quân đạt 8,8 thuê bao/100 dân. Số thuê bao Internet trên mạng đến tháng 9 là 102.929 thuê bao, mật độ Internet bình quân đạt 6 thuê bao/100 dân.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, giải quyết việc làm:

Tư vấn giới thiệu việc làm và tổ chức các phiên giao dịch việc làm cho người lao động được thực hiện thường xuyên, giúp người lao động có việc làm. Trong 9 tháng giải quyết việc làm cho 3.089 lao động, có 2.273 lao động có việc làm ổn định, đã xuất cảnh được 126 lao động, đạt 84% kế hoạch; có 8.711 trường hợp đăng ký bảo hiểm thất nghiệp giảm 2,3% so cùng kỳ, trong đó có 8.083 trường hợp đã có quyết định hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp với tổng số tiền chi trả hơn 72 tỷ đồng. Tổ chức được 25 phiên giao dịch việc làm có 42 doanh nghiệp tham gia tuyển dụng, trong đó có 36 doanh nghiệp trong tỉnh với nhu cầu tuyển dụng là 2.163 lao động.

2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:

Công tác an sinh xã hội tiếp tục được các địa phương quan tâm chỉ đạo. Đoàn thể và chính quyền các cấp tổ chức thăm và tặng quà trong dịp Tết Nguyên đán 2016, nhân dịp lễ 30/4, kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ 27/7... Tổ chức 15 đoàn là thành viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy thăm hộ gia đình chính sách tiêu biểu, người cao tuổi và trợ cấp cho hộ nghèo với số tiền 251 triệu đồng; tặng quà cho 1.693 người cao tuổi với tổng kinh phí 741,4 triệu đồng; tổ chức gặp gỡ các đối tượng bảo trợ xã hội tại đơn vị với 320 đối tượng, tổng số tiền là 38,4 triệu đồng từ ngân sách tỉnh; tặng quà cho 17.270 hộ nghèo với kinh phí là 5.181 triệu đồng từ ngân sách tỉnh, huyện; Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh đã vận động được 96.978 phần quà với số số tiền 28.299 triệu đồng đã trực tiếp cấp cho hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn...

Vận động đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa được 10.489 triệu đồng, đạt 104,9% kế hoạch, tăng 25% so với cùng kỳ; xây mới 100 ngôi nhà tình nghĩa, đạt 76,9% kế hoạch, tăng 5% so cùng kỳ với tổng kinh phí 3.970 triệu đồng; sửa chữa 64 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 1.273 triệu đồng, đạt 182,9% kế hoạch từ nguồn vận động.

Quỹ Bảo trợ trẻ em vận động hơn 3,2 tỷ đồng, trong đó tiền mặt là 860,7 triệu đồng, hàng hóa là 2.348 triệu đồng. Với kết quả vận động được đã tổ chức hỗ trợ, giúp đỡ cho 6.950 lượt trẻ em có hoàn cảnh khó khăn của tỉnh, với tổng giá trị tiền và hàng hóa đã chi hơn 3 tỷ đồng; Lãnh đạo tỉnh đi thăm và trao tặng 1.400 phần quà gồm bánh trung thu và lồng đèn cho 1.400 em thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn tại 11 huyện, thành với tổng kinh phí 151,2 triệu đồng.

Đưa 20 trẻ em khuyết tật khiếm thính đến Thành phố Hồ Chí Minh để khám và xin hỗ trợ máy trợ thính, chương trình do quỹ VinaCapital tài trợ; hỗ trợ cho 06 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn bị bệnh tim được phẫu thuật tim miễn phí tại bệnh viện tim Tâm Đức tại Thành phố Hồ Chí Minh, tổng kinh phí là 465,6 triệu đồng; thực hiện 18 kỳ “Tiếp sức đến trường”, tặng xe đạp và quà (cặp+tập) cho 1.080 em học sinh nghèo hiếu học với tổng số tiền 435 triệu đồng.

3. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Công tác phòng chống dịch bệnh được thường xuyên quan tâm và theo dõi chặt chẽ. Tình hình dịch bệnh 9 tháng so với cùng kỳ có 12 bệnh giảm và 5 bệnh tăng, các bệnh khác tương đương hoặc không xảy ra. Những bệnh giảm: bệnh sởi giảm 83,3%, cúm giảm 82,6%, bệnh do liên cầu lợn ở người giảm 75%; thương hàn giảm 14,3%; quai bị giảm 12,1%, viêm não virus giảm 11,1%; thủy đậu giảm 4,8%, bệnh tay chân miệng giảm 4,5%...; những bệnh tăng: bệnh ho gà tăng 100%, tiêu chảy tăng 22,7%; bệnh rubella tăng 18 cas...

Công tác khám chữa bệnh vẫn thường xuyên quá tải bệnh viện tuyến tỉnh, công suất sử dụng giường bệnh bình quân của các cơ sở điều trị đạt 96%, bệnh viện tuyến tỉnh đạt 109%, các bệnh viện chuyên khoa đạt 85,1%, bệnh viện tuyến huyện đạt 67,3%..., đã khám chữa bệnh 3.875.844 lượt người giảm 2,9% so cùng kỳ, trong đó điều trị nội trú 172.791 lượt người tăng 8,7%. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm cũng thường xuyên được quan tâm, kiểm tra 8.554 lượt cơ sở, kết quả có 94,9% cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngộ độc thức ăn và thực phẩm xảy ra 6 vụ có 236 người mắc, tăng 3 vụ so cùng kỳ.

Một số bệnh truyền nhiễm: Bệnh sốt xuất huyết xảy ra 1.659 cas, tăng 71% so cùng kỳ, không xảy ra tử vong. Nhiễm HIV/AIDS: phát hiện 191 cas nhiễm HIV, số cas mới AIDS là 33 cas; lũy kế đến nay số người nhiễm HIV là 4.397 cas, số cas AIDS là 1.652 và tử vong do AIDS là 907 cas.

4. Giáo dục - Đào tạo:

Trong 9 tháng, toàn ngành đã thực hiện tốt các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban nhân dân tỉnh về nhiệm vụ trọng tâm như: tổng kết năm học 2015-2016; tổ chức tốt ngày “Toàn dân đưa trẻ đến trường”; khai giảng năm học mới; tổ chức tốt các kỳ thi trung học phổ thông quốc gia; thi tuyển sinh lớp 10; tuyển sinh vào các lớp đầu cấp năm học 2016-2017.

Kết quả năm học 2015 – 2016 như sau:

Giáo dục mầm non: các huyện, thành, thị được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận hoàn thành chuẩn phổ cập cho trẻ em 5 tuổi, Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận tỉnh Tiền Giang đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trẻ em 5 tuổi năm 2015.

Giáo dục tiểu học: Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận các huyện thành, thị đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học năm 2015; Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận tỉnh Tiền Giang đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học năm 2015.

Giáo dục trung học: kết quả tốt nghiệp trung học phổ thông sau phúc khảo có 10.113 thí sinh tốt nghiệp, tỷ lệ 92,9%; kỳ thi tuyển sinh lớp 10 có 17.123/17.232 thí sinh, tỷ lệ 99,4%.

Giáo dục thường xuyên - Giáo dục chuyên nghiệp: Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận các huyện, thành, thị đạt chuẩn phổ cập giáo dục xóa mù chữ.

Có 169 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó mầm non 26 trường, tỷ lệ 14%; tiểu học 113 trường, tỷ lệ 50,4%; trung học cơ sở 26 trường, tỷ lệ 20,6%; trung học phổ thông 4 trường, tỷ lệ 10,8%.

5. Văn hóa, thể thao:

Trong 9 tháng năm 2016 tập trung tổ chức nhiều hoạt động nổi bật như tổ chức Hội xuân, chợ hoa xuân đều khắp trên địa bàn các huyện, thành, thị với nhiều loại hình hoạt động phong phú và đa dạng: kỷ niệm 231 năm chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút; 86 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016; 41 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương; 130 năm ngày quốc tế Lao động; 126 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 141 năm ngày anh hùng dân tộc Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân hi sinh; 15 năm Ngày Gia đình Việt Nam 28/6; 152 năm ngày anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết; 71 năm ngày cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02/9… đặc biệt tuyên truyền chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, tuyên truyền bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021.

Theo Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, toàn tỉnh có 974/1.025 ấp - khu phố văn hóa, đạt tỷ lệ 95%; có 79/173 xã đạt chuẩn văn hóa, trong đó có 60 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, 19 phường đạt chuẩn văn minh đô thị; có 33 chợ văn hóa, 11 công viên văn hóa, 314 con đường văn hóa, 363 cơ sở thờ tự văn hóa.

6. Tình hình trật tự an toàn giao thông: Theo báo cáo của ngành công an tính đến ngày 15/8/2016:

Giao thông đường bộ: Tai nạn xảy ra 291 vụ, làm chết 165 người, bị thương 217 người; so cùng kỳ tai nạn tăng 53 vụ, số người chết tăng 42 người, số người bị thương tăng 23 người. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ xảy ra 49.104 vụ giảm 2.638 vụ so cùng kỳ, phạt tiền 13.815 vụ với số tiền 21.539 triệu đồng.

Giao thông đường thủy: Từ đầu năm đến nay xảy ra 5 vụ tai nạn giảm 01 vụ so cùng kỳ, làm chết 01 người tương đương so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy xảy ra 13.308 vụ tăng 740 vụ so cùng kỳ, phạt tiền 10.594 vụ với số tiền phạt 1.088 triệu đồng.

* Tai nạn giao thông trong những ngày lễ 02/9 (từ 7 giờ ngày 01/9/2016 đến 16 giờ ngày 04/9/2016): Giao thông đường bộ: tai nạn xảy ra 6 vụ, làm chết 3 người, làm bị thương 5 người; so cùng kỳ tai nạn tăng 4 vụ, số người chết tăng 2 người, số người bị thương tăng 2 người. Nguyên nhân do lái xe mô tô đi không đúng phần đường, lái xe thiếu chú ý quan sát, lái xe ô tô vượt trái quy định, xe ô tô khách không nhường đường...; giao thông đường thủy: tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông không xảy ra.

7. Tình hình cháy nổ, môi trường:

Từ đầu năm đến nay xảy ra 23 vụ cháy, tổng giá trị tài sản thiệt hại ước tính trên 3 tỷ đồng. Vi phạm môi trường đã phát hiện 19 vụ với tổng số tiền xử phạt hơn 1 tỷ đồng, chủ yếu do thực hiện không đầy đủ một trong các nội dung cam kết bảo vệ môi trường, thực hiện không đúng một trong các nội dung trong đề án bảo vệ môi trường đã được xác nhận, khai thác cát làm vật liệu xây dựng thông thường không có giấy phép, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trong phạm vi diện tích đất của dự án đầu tư xây dựng công trình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

SL ước tháng 9/2016

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Tiền Giang